20 11

Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học

Thứ tư - 12/07/2017 10:34
Năm học 2015- 2016 là năm học đẩy mạnh đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục, trong đó chú trọng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. Các buổi sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn được coi là những buổi tập huấn nhỏ nhằm bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ và đặc biệt là chỉnh đốn năng lực sư phạm cho giáo viên (GV) theo chuẩn nghề nghiệp. Thực tế cho thấy không phải các trường thiếu hoạt động này mà hơn thế nữa những hoạt động dự giờ, thăm lớp đánh giá luôn diễn ra đều đặn và nghiêm túc. Tuy nhiên, trước đây, việc sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn (của trường nói riêng và ở tất cả các trường THCS nói chung) chủ yếu tập trung vào giáo viên. Cụ thể, tổ, nhóm chuyên môn thống nhất về bài dạy, phân công giáo viên đảm nhiệm, giáo viên đó tự soạn bài và lên lớp, các giáo viên khác cùng ngồi dự. 
Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
Năm học 2015- 2016 là năm học đẩy mạnh đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục, trong đó chú trọng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. Các buổi sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn được coi là những buổi tập huấn nhỏ nhằm bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ và đặc biệt là chỉnh đốn năng lực sư phạm cho giáo viên (GV) theo chuẩn nghề nghiệp. Thực tế cho thấy không phải các trường thiếu hoạt động này mà hơn thế nữa những hoạt động dự giờ, thăm lớp đánh giá luôn diễn ra đều đặn và nghiêm túc. Tuy nhiên, trước đây, việc sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn (của trường nói riêng và ở tất cả các trường THCS nói chung) chủ yếu tập trung vào giáo viên. Cụ thể, tổ, nhóm chuyên môn thống nhất về bài dạy, phân công giáo viên đảm nhiệm, giáo viên đó tự soạn bài và lên lớp, các giáo viên khác cùng ngồi dự.  Theo hình thức này, sự quan tâm tới học sinh của người dạy bị hạn chế bởi các giáo viên cùng dự chủ yếu tập trung vào việc quan sát, đánh giá cách dạy của giáo viên. Không những thế, có nhiều khi thái quá giữa đánh giá nhận xét về ưu điểm cũng như khuyết điểm, cũng có không ít trường hợp ngại ngần khi phê phán, góp ý về cách dạy. Do đó  hầu hết các buổi sinh hoạt chuyên môn (SHCM) hiện nay sa vào hình thức hành chính là chủ yếu. Tổ trưởng là người điều hành các tổ viên hoàn thành các thao tác lặp lại như: đánh giá nhận xét quá trình hoạt động trong tuần, triển khai một số công việc mới trong thời gian tới. Nếu chuẩn bị có thao giảng, chuyên đề thì tất cả cùng tập trung bàn bạc, góp ý xoay quanh tiết dạy đó.
          - Dự giờ chỉ chú ý cách dạy của thầy và khi đánh giá chỉ góp ý, rút kinh nghiệm về nội dung kiến thức, phương pháp giảng dạy (chú ý quá nhiều vào bài dạy).
          - GV giảng dạy chuyên đề, thao giảng thường đi theo một khung chương trình sẵn có, phản ánh trung thành kiến thức trong sgk chứ rất ít quan tâm đến tầm đón nhận của học sinh
- Giờ dạy minh họa thường nặng tính chất phô diễn vì GV sợ bị đánh giá thiếu năng lực. Hệ quả tất yếu
- Giờ dạy mang tính nhồi nhét, học sinh “khó tiêu”
- Ít quan tâm đến học sinh yếu, sợ các em làm ảnh hưởng đến tiết dạy, cháy giáo án
- Trong qua trình đánh giá, người dự giờ do chỉ chăm chăm vào GV nên mọi ý kiến mổ xẻ đều hướng về người dạy mà bỏ quên người học. Chính vì thế kết quả học tập của HS ít được cải thiện, nhất là các đối tượng yếu kém vì luôn bị “bỏ rơi”. HS giỏi xa cách HS yếu kém, còn HS yếu kém lại tự ti sợ học, chán chường và dẫn đến bỏ học…
Khi đón nhận chủ trương đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn trong năm học này của Bộ GD-ĐT, PGD Núi Thành, tổ XH 2 trường THCS Huỳnh Thúc Kháng thống nhất  đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo NCBH, coi đây là một bước thay đổi cơ bản để nâng cao hiệu quả sinh hoạt chuyên môn, nâng cao chất lượng dạy và học.
B. ĐỔI MỚI SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC:
- Là hoạt động chuyên môn nhưng ở đó GV tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học (học sinh).
 - Là hoạt động CM mà ở đó GV tập trung giải quyết các câu hỏi: Học sinh học bài này gặp khó khăn gì? Kết quả hs đạt được qua bài học có cải thiện không? Học sinh có tích cực xây dựng bài học không? nội dung bài học có phù hợp không? cần đề xuất điều chỉnh như thế nào?
I. Quan niệm và mục đích đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên NCBH
1. Quan niệm:
 * Thế nào là sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học (NCBH)?
 - Là hình thức sinh hoạt CM không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn từ đó có biện pháp cải tiến phương pháp dạy để nâng cao chất lượng dạy học.
 - Là hoạt động chuyên môn mà ở đó tạo cơ hội tốt cho HS tham gia xây dựng nội dung bài học; HS thực sự là chủ thể của hoạt động dạy học.
2. Mục đích:
- Làm thay đổi hình thức sinh hoạt chuyên môn.
- GV nâng cao năng lực CM, kỹ năng sư phạm,khả năng sáng tạo.
- HS có cơ hội tham gia vào quá trình học tập, GV quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh.
- Nâng cao chất lượng dạy - học và văn hóa ứng xử trong nhà trường.
II. Sự khác nhau giữa sinh hoạt CM truyền thống với sinh hoạt CM theo NCBH.
Sinh hoạt CM truyền thống Sinh hoạt CM theo NCBH
1. Mục đích
- Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.
- Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.
- Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện.
1. Mục đích
- Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.
- Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.
-Tự rút ra những kinh nghiệm để vận dụng vào thực tiễn dạy trên lớp
2. Thiết kế bài dạy minh hoạ
- Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.
- Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.
- Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học.
2. Thiết kế bài dạy minh hoạ
- Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế.không nhất thiết theo mẫu qui định
-Nội dung bài học được thiết kế  linh hoạt  phù hợp với từng đối tượng HS
- Không nhất thiết theo khuôn mẫu qui định
- Phát huy sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học
 
3. Gv dạy minh hoạ
* Một người dạy minh hoạ đã chỉ định từ trước
* Vị trí người dự giờ
- Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS.
3.Gv dạy minh hoạ
Một người được chọn trong nhóm hoặc tổ hoặc tự gv đăng kí
* Vị trí người dự giờ
- Ngồi hoặc đứng ở vị trí thích hợp quan sát và chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của  học sinh.
. Thảo luận giờ dạy minh hoạ
- Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm  mục đích đánh giá, xếp loại GV.
- Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.
 
- Có xếp loại tiết dạy.
 
4. Thảo luận giờ dạy minh hoạ
- Người dạy chia sẻ mục tiêu bài học, những ý tưởng mới, những cảm nhận của mình qua tiết dạy minh họa.
-Không khí sinh hoạt thân thiện cởi mở.
  theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, tập trung vào phân tích các hoạt động của HS và tìm ra các nguyên nhân và giải pháp khắc phục.
- Không xếp loại tiết dạy.
III. Các bước tiến hành sinh hoạt chuyên môn dựa trên NCBH
*Bước 1. Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu
a. Xác định mục tiêu, chọn bài học nghiên cứu 
 * Xác định mục tiêu:
     Cần xác định mục tiêu kiến thức và kỹ năng mà học sinh cần đạt được (theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở từng môn học , đặc biệt cần chú ý xây dựng mục tiêu về thái độ của học sinh), đảm bảo phù hợp với trình độ và lứa tuổi của HS khi chọn bài học nghiên cứu
 * Chọn bài học nghiên cứu:
     - Mỗi GV cùng bộ môn được chọn những bài phù hợp với yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ mà mục tiêu đã vạch ra sau đó thống nhất lựa chọn bài học chung nhất để làm bài học nghiên cứu.
          - GV trong tổ thảo luận chi tiết về thể loại bài học đã chọn, nội dung bài học, các phương pháp, phương tiện dạy học đạt hiệu quả cao, cách tổ chức dạy học, cách rèn kỹ năng, hướng dẫn học sinh cách vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn... 
          - Dự kiến những thuận lợi, khó khăn của HS khi học tập và các tình huống xảy ra cùng với cách xử lý tình huống (nếu có)… 
 b. Xây dựng giáo án (Thiết kế bài dạy minh họa): 
          -Bài dạy minh họa không phải do một giáo viên thiết kế mà do một nhóm giáo viên cùng bộ môn thiết kế, thảo luận, thống nhất lựa chọn phương án tối ưu nhất.
          -Việc thiết kế bài soạn không nhất thiết phụ thuộc máy móc vào quy trình bước dạy theo SGK hoặc SGVmà dựa vào mục tiêu bài học đã đề ra để thiết kế cho phù hợp.
*Bước 2. Tiến hành dạy bài học (bài giảng minh họa) và dự giờ
- Sau khi hoàn thành xây dựng kế hoạch dạy học chi tiết, GV sẽ dạy minh hoạ bài học nghiên cứu ở một lớp đã chuẩn bị trước.
 - Các yêu cầu cụ thể của giờ dạy minh họa như sau:
+ Chuẩn bị lớp dạy minh hoạ, bố trí lớp có đủ chỗ ngồi quan sát thuận lợi cho người dự.
+ Điều chỉnh số lượng người dự ở mức vừa phải, không quá đông.
+ Việc dự giờ cần đảm bảo không ảnh hưởng đến việc học của học sinh, không gây khó khăn cho người dạy minh hoạ.
- GV dạy và dự cần quan sát việc học của tất cả học sinh, cách làm việc nhóm, thái độ tình cảm của học sinh...  Khi dự giờ GV tập trung vào việc học của học sinh, theo dõi nét mặt, hành vi, sự quan tâm đến bài học của học sinh đặc biệt cần ghi chép cụ thể thái độ của hs khi tham gia trả lời các câu hỏi của GV, thông qua đó tìm mối liên hệ giữa việc học của HS với tác động của giáo viên về cách sử dụng các phương pháp dạy học, cách tổ chức lớp học.
- Điều chỉnh thói quen đánh giá giờ dạy qua hoạt động của giáo viên, người dự cần hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy, đặt mình vào vị trí của người dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học tập của học sinh nhằm tìm cách giải quyết.
*Bước 3. Suy ngẫm, thảo luận về bài học nghiên cứu
 + Giáo viên dạy minh họa chia sẻ về bài học: 
          - Những ý tưởng mới.
          - Những thay đổi, điều chỉnh về nội dung. 
          - Phương pháp dạy học.
          - Những điều hài lòng và chưa hài lòng trong quá trình dạy minh họa.
+Sau đó người dự Suy ngẫm và chia sẻ các ý kiến của GV về bài học sau khi dự giờ: 
          - Người dự trao đổi, chia sẻ, lắng nghe mang tính xây dựng. 
          - Thảo luận xem HS học như thế nào? (mức độ tham gia, hứng thú và kết quả học tập của từng em).
          - Cùng suy nghĩ: vì sao học sinh chưa tích cực tham gia vào hoạt động học, học chưa đạt kết quả... và đưa ra các biện pháp thay đổi cách dạy phù hợp.
          - Mọi người phải lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau khi thảo luận, không nên quan tâm đến các tiêu chuẩn truyền thống của một giờ dạy.
          - Không nên phê phán đồng nghiệp. 
          - Không đánh giá xếp loại giờ dạy minh hoạ 
 +Tổ trưởng là người tổng hợp các ý kiến và đưa ra các nhận định đạt được và chưa đạt được để rút kinh nghiệm.
 * Bước 4. Áp dụng cho thực tiễn dạy học hàng ngày
          Thông qua tiết dạy minh họa, thông qua thảo luận tiết dạy của đồng nghiệp giáo viên tự rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân, kiểm nghiệm những vấn đề đã được dự giờ và thảo luận, áp dụng vào bài giảng hàng ngày trên lớp

          Nguyên tắc vận dụng vào dạy học hàng ngày:
          - Giảm truyền thụ kiến thức bằng PP thuyết trình.
          - Vận dụng các PPDH có sự tham gia của HS.
          - Sử dụng thiết bị dạy học “thực tế”.
          - Tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ 4-6, cân bằng giới tính, năng lực.
          - Khuyến khích sự tích cực, sáng tạo của HS.
IV. Tổ chức thực hiện sinh hoạt chuyên môn dựa trên việc nghiên cứu bài học:
1. Điều kiện để thực hiện nghiên cứu bài học:
- Sử dụng tiết học bình thường để tiến hành.
- Gửi giáo án của tiết học cho giáo viên dự giờ.
- Sắp xếp vị trí dự giờ có thể quan sát được nét mặt, thái độ của HS.
- Giáo viên có hồ sơ minh chứng cụ thể về tiết dự.
- Nhóm giáo viên cùng hợp tác xây dựng giáo án.
- Có sự ủng hộ từ phía lãnh đạo nhà trường.
2. Tổ chức thực hiện sinh hoạt chuyên môn dựa trên việc nghiên cứu bài học
*Thứ nhất: Soạn giáo án và thực hiện giờ dạy minh họa
- Nhóm GV hợp tác xây dựng giáo án; cử GV dạy minh họa; tổ chức lớp dạy đúng yêu cầu dự giờ mới.
*Thứ hai: Hình thành cách dự giờ, cách suy ngẫm, xây dựng quan hệ đồng nghiệp.
- Luyện tập cách quan sát và cách nắm bắt suy nghĩ về việc học của học sinh trong giờ học; có khả năng phán đoán nhanh nhạy, chính xác để điều chỉnh việc dạy phù hợp việc học tập của học sinh.
- Thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cảm nhận của giáo viên về học sinh trong từng hoàn cảnh khác nhau.
- Hình thành thói quen lắng nghe lẫn nhau; rèn luyện cách chia sẻ ý kiến. Xây dựng mối quan hệ đồng nghiệp thân thiện, cộng tác và học tập lẫn nhau.
*Thứ ba: Tập trung phân tích các nguyên nhân, các mối quan hệ trong giờ học và tìm biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng các bài học.
- Đi sâu nghiên cứu, phân tích các phương án dạy học đáp ứng việc học của học sinh, các mối quan hệ trong lớp học, các kĩ năng cần thiết để nâng cao chất lượng việc học của HS.
- Tăng cường, vận dụng, thử nghiệm những ý tưởng sáng tạo khi dạy minh hoạ theo hướng lấy HS làm trung tâm.
V. Sử dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học trong nghiên cứu bài học:
Để giờ học có hiệu quả như mong muốn, giáo viên cần kết hợp một cách sáng tạo, nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học khác nhau cùng với việc sử dụng thiết bị dạy học đảm bảo đạt mục tiêu, dạy học phù hợp với đối tượng và điều kiện của từng trường. Sau đây là một số phương pháp nhằm cải thiện chất lượng giờ học lịch sử, đảm bảo cho học sinh  tiếp thu tốt kiến thức .
1. Dùng kĩ thuật khăn trải bàn :
Kĩ thuật khăn trải bàn là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS
        Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn”
 
Khăn trải bàn
- Hoạt động theo nhóm (4 người / nhóm) (có thể nhiều người hơn)
- Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa
- Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,...)
- Viết vào ô trả lời hoặc ý kiến về chủ đề... Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút.
- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời.
- Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0).
2. Sử dụng trò chơi ô chữ.
- Trong dạy học nói chung, trong học môn lịch sử nói riêng, không khí tiết học ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giờ học. Việc sử dụng trò chơi ô chữ để trau dồi kiến thức, khắc sâu kiến thức cho học sinh rất phù hợp.
- Trò chơi ô chữ kích thích việc khắc sâu tri thức, tạo vui vẻ, hệ thống hóa kiến thức. Việc dùng trò chơi ô chữ nếu giáo viên dùng một cách thích hợp sẽ đem lại hiệu quả giáo dục tích cực.
3. Sử dụng  sơ đồ tư duy:
 Đây là phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của con người rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó, “Sắp xếp” ý nghĩ của bạn”.
Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, Bản đồ tư duy sẽ giúp việc tiếp thu kiến thức nói chung, việc tiếp thu môn lịch sử nói riêng:
- Sáng tạo hơn
- Tiết kiệm thời gian
- Ghi nhớ tốt hơn
- Nhìn thấy bức tranh tổng thể
- Tổ chức và phân loại suy nghĩ của người học.
VI. Lợi ích có được khi tham gia sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học:
- Rèn luyện, củng cố, phát triển kĩ năng quan sát.
- Hiểu sâu, rộng hơn về học sinh và đồng nghiệp. Hình thành mối quan hệ  chấp nhận lẫn nhau giữa giáo viên với giáo viên và giữa giáo viên với học sinh.
- Cùng nhau xây dựng và tạo nên văn hoá nhà trường.
- Tạo cơ hội cho CBQL, GV hiểu về quy định, chính sách của ngành và công việc của mỗi GV.
- Tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao năng lực chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học, kĩ thuật dự giờ theo hướng dạy học tích cực, lấy việc học của học sinh làm trung tâm khi tham gia sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học.
VII. Một số khó khăn cần khắc phục khi đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học:
1. Về cơ sở vật chất.
- Khó khăn:   
+ Lớp học hẹp, khó bố trí chỗ ngồi cho GV đến dự.
+ Đồ dùng dạy học cho tiết dạy còn thiếu, không đồng bộ.
- Khắc phục:
+ BGH cần tạo điều kiện cho tiết dạy được thực hiện tốt.
+ GV dạy phải chuẩn bị trước các đồ dùng dạy học, chủ động bổ sung những đồ dùng thiếu.
2. Về GV thực hiện dạy minh họa:
- Khó khăn:
+ GV chuẩn bị bài dạy mất nhiều thời gian nên không sẵn sàng hợp tác.
+ Trong tiết dạy GV không thể quan sát hết thái độ, hành động, sai sót của từng học sinh.
- Khắc phục:
+ Dạy theo tiết dạy của chương trình, đề nghị BGH tạo điều kiện hỗ trợ kinh phí bồi dưỡng.
+ Tiết dạy là sản phẩm chung của tổ/nhóm, không đánh giá, xếp loại.
3. Về nhóm chuyên môn:
- Khó khăn:
+ Mất nhiều thời gian.
+ Nhiều giáo viên dự làm cho học sinh không tập trung.
- Khắc phục:
+  Có sự tính toán hợp lí từ đầu năm học.
+ Người dự tránh dùng máy ảnh, camera… làm HS mất tập trung.
4. Về học sinh:
- Khó khăn:
+ Số lượng HS trong lớp đông nên không thuận lợi cho việc học và dạy.       
+ Chất lượng HS không đồng đều, ý thức học tập của học sinh chưa tốt…
- Khắc phục:
+ GV cần có phương pháp phù hợp để khơi dậy tinh thần tự giác học tập của HS.
C. KẾT LUẬN:
Như vậy, đây là những bước sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn rất kỳ công, mất nhiều thời gian, công sức nhưng với tâm huyết và tinh thần trách nhiệm, với mong muốn đổi mới giáo dục, các thành viên trong tổ XH2 với việc đổi mới trong sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, không chỉ bảo đảm cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia thực sự vào quá trình học tập, giáo viên có thể quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh, đặc biệt những học sinh có khó khăn về học tập mà còn tạo cơ hội cho tất cả giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm và phát huy khả năng sáng tạo trong việc áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học thông qua việc dự giờ, trao đổi, thảo luận, chia sẻ sau khi dự giờ, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường. Thiết nghĩ, ở tất cả các nhà trường nên tích cực đổi mới đồng bộ theo hướng như vậy.
  Tóm tắt: Cách tổ chức sinh hoạt CM thông qua NCBH ở tổ 
          B1: Xác định mục tiêu của bài học cần nghiên cứu trong kế hoạch của tháng hoặc hk là gì? Toàn bộ GV trong tổ lựa chọn nội dung bài học trong chương trình mình dạy đề xuất bài học tham gia nghiên cứu.
          B2: Thống nhất lựa chọn trong các bài được đề xuất chọn ra bài học chung nhất đảm bảo mục tiêu đã vạch ra.
          B3: Phân công nhóm soạn GA (có thể là giáo viên dạy cùng khối) 
          B4: Nhóm soạn GA thống nhất nội dung soạn đề cử giáo viên minh họa và đề nghị xếp lịch tiến hành dạy minh họa trên lớp.
          B5: Tiến hành dạy minh họa và thảo luận.
          *Chú ý: - Không thống nhất cách dạy theo khuôn mẫu loại bài học.
   - Mỗi giáo viên tự rút ra những kinh nghiệm để áp dụng thực tiễn dạy trên lớp.
   - Đặc biệt không xếp loại tiết dạy minh họa của GV./

Tác giả bài viết: Mai Khoa

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

LIÊN KẾT WEBSITE
THÀNH VIÊN
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang truy cập8
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm7
  • Hôm nay3,400
  • Tháng hiện tại9,864
  • Tổng lượt truy cập152,008
XẾP HÀNG THI ĐUA TUẦN 1
Bảng xếp hạng thi đua tuần
Tên lớp Xếp hạng
12A 3
11A 2
10A 1
Xem chi tiết
VĂN BẢN

1136/SGDĐT-GDCN-ĐTBD

Hướng dẫn thực hiện công tác BDTX CBQL, GV năm học 2018-2019

Lượt xem:11 | lượt tải:8

1297/SGDĐT-GDTrH

Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2017-2018

Lượt xem:37 | lượt tải:49

1508/QĐ-UBND

QĐ 1508 - Khung kế hoạch thời gian năm học 2017-2018

Lượt xem:187 | lượt tải:76

797/SGDĐT-GDCN&ĐTBD

Kế hoạch BDTX cho CBQL và GV năm học 2017-2018

Lượt xem:35 | lượt tải:26
User1
Thành viên
email1
   Email
Vanban
Văn Bản
Dowload

Download
Smas

QLĐ SMAS
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây